Núi nghĩa lĩnh ở đâu

(HBĐT) - Khu di tích lịch sử Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì (Phú Thọ) là nơi thờ cúng các Vua Hùng đã có công dựng nước. Các ngôi đền, chùa trong khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia đặc biệt Đền Hùng là quần thể kiến trúc, tín ngưỡng linh thiêng, cổ kính. Trong đó, đền Thượng đặt trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh là nơi khắc ghi nhiều dấu tích có giá trị lịch sử quý giá. Chẳng vậy mà từ Đại môn lên tới đền Thượng phải leo gần 500 bậc đá nhưng du khách vẫn không thể bỏ qua, bởi đó là nơi địa thế hùng vĩ, nơi hội tụ linh thiêng sông núi.

Bạn đang xem: Núi nghĩa lĩnh ở đâu


*

Đền Thượng luôn thuhút đông đảo du khách tới dâng hương, bái Tổ.(Ảnh: Tư liệu)

Đền Thượng có tên chữ là "Kính thiên lĩnh điện” (điện thờTrời trên núi Nghĩa Lĩnh). Tương truyền, thời Hùng Vương, đỉnh núi Nghĩa Lĩnhlà nơi Vua Hùng thường lên tế trời đất, tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng nôngnghiệp, cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh.Xưa kia, trong hậu cung đền Thượng có đặt thờ hạt lúa to bằng chiếc thuyền nanđược làm bằng gỗ. Trong truyền thuyết Hùng Vương có câu chuyện "Hạt lúa thần”thể hiện mong ước về sự phát triển của mùa màng, đem lại cho nhân dân cuộc sốngấm no. Cũng có tài liệu viết rằng, tại đền Thượng, Vua Hùng thứ 6 đã lập đàncầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Vì thế, sau khi ThánhGióng đánh tan giặc, bay về Trời, Vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi,về sau nhân dân đặt thêm bài vị Vua Hùng vào thờ cúng.

Hành hương lên đền Thượng, được tìm hiểu, giới thiệu về lịchsử, kiến trúc và tín ngưỡng thờ tự, mỗi người càng thấm thía giá trị cội nguồnvà tự hào về truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc. Căn cứ vào dấu vếtkhảo cổ khai quật được là những cột đá cổ, mảnh kiến trúc bằng đất nung, mộtphần của kiến trúc tháp các tòa sen, mái tháp hình ống, gạch, ngói, đồ sứ, cácmảnh bát men đời nhà Trần... các nhà nghiên cứu cho rằng: Những cột đá là dấutích của một ngôi miếu cổ được dựng lên để thờ thần (thần Núi hoặc Hùng Vương),cùng với các kiến trúc tôn giáo đã được xây dựng trên đỉnh núi khá sớm. Vào đờiTrần, trên đỉnh núi Hùng, kiến trúc đền, miếu được xây dựng lại. Dưới các triềuđại phong kiến, đền Thượng luôn được quan tâm tu bổ, tôn tạo. Trải qua thờigian, ngôi đền nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ nguyên kiểu dáng kiến trúc cổ.Gần đây nhất là năm 2008, đền được tu bổ đồng bộ, khang trang về kiến trúc cũngnhư nội thất thờ tự.

Trong đền Thượng có bức đại tự đề "Nam Việt triệu tổ”, nghĩalà Tổ khai sáng nước Việt Nam. Đền được làm kiểu chữ Vương, có 3 cấp. Phíatrước là nghi môn rồi đến đại bái (cấp 1), tiền tế (cấp 2) và hậu cung (cấp 3).Trong cuốn sách "Đền Hùng di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quốc gia” có viết:Nghi môn kiến trúc mang phong cách thời Nguyễn, có 4 trụ biểu lớn tạo thành 3cổng mái vòm. Các cột trụ phía trên đắp theo kiểu lồng đèn, bốn mặt đắp hình tứlinh, đỉnh cột đắp 4 con nghê chầu. Phía trên nóc cổng giữa đắp trang trí"lưỡng long chầu nhật”, hình hai con rồng đang uốn lượn. Hai bên có tượng võsỹ, phía trên là hình phượng cặp thư.

Xem thêm: Nên Mua Kính Mát Ở Đâu Tphcm, Top 6 Địa Chỉ Mua Mắt Kính Uy Tín Tại Tphcm

Ở đại bái, tiền tế và hậu cung kết cấu được xây thành 3 cấpnối liền nhau. Mặt bằng có cấu trúc 3 gian, 2 hàng cột. Đặc biệt tại hậu cunglà nơi thâm nghiêm, bên trong có 4 ban thờ. Ở 3 ban thờ chính diện có long ngaivà bài vị được đặt trong khám thờ. Tất cả đều trạm trổ công phu, sơn son thếpvàng lộng lẫy.

Phía tay trái đền Thượng có cột đá thề, tương truyền do ThụcPhán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ nonsông đất nước mà Hùng Vương trao lại. Qua thời gian, dấu tích cột đá bị vùilấp. Năm 1968, các nhà nghiên cứu tìm thấy những cột đá cổ nằm sâu trong lòngđất tại khu vực đền Thượng. Từ đó cột đá thề được xây dựng lại ở bên phải trướcsân đền. Năm 2003, cột đá được trùng tu kiểu dáng như cũ; năm 2009 tu bổ, tôntạo lại bằng đá bán quý với kiểu dáng như hiện nay.

Hiện, trong đền Thượng có rất nhiều hoành phi, câu đối cangợi công đức tổ tiên và dăn dạy con cháu luôn ghi nhớ công lao dựng nước củacha ông, đó là: Sông núi nước Nam; Dân buổi ban đầu; Tổ muôn đời của nướcNam..., hay những câu đối: Thần thánh mở nước Nam, đến nay dân vẫn đông, đấtvẫn rộng/ Công lao thờ tại miếu, ấy là cây có gốc, nước có nguồn; Sách trời đãđịnh, chính thống dựng kinh đô, non sông Bách Việt đã có Tổ/ Núi sáng linhthiêng, cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn...